Ngay sau khi Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật và Luật Trồng trọt có hiệu lực thi hành đã tạo khung pháp lý bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả, toàn diện để phát triển sản xuất theo yêu cầu của thị trường đã góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chất lượng và từng bước hiện đại hóa, bảo đảm phát triển bền vững, an ninh lương thực, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nông dân, tích ứng biến đối khí hậu và hội nhập kinh tế Quốc tế.
Kết quả nổi bật: Giai đoạn 2015-2025, toàn tỉnh đã tổ chức trên 200 lớp tập huấn tuyên truyền pháp luật cùng nhiều hoạt động tuyên truyền khác với trên 15.000 lượt người tham gia, đối tượng gồm cán bộ quản lý, các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và nông dân. Trong đó tập trung phổ biến các quy định về xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quản lý giống cây trồng, phân bón, thuốc BVTV. Cụ thể: Về hoạt động sản xuất, buôn bán giống cây trồng toàn tỉnh hiện có khoảng 800 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng các loại (trong đó nhiều cơ sở kết hợp kinh doanh cùng phân bón, thuốc BVTV), hàng năm thực hiện kiểm tra khoảng 60 cơ sở kinh doanh giống, phát hiện, xử lý khoảng 02 cơ sở vi phạm, chủ yếu liên quan đến kinh doanh giống không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng. Về quản lý chất lượng giống cây trồng lấy 10 mẫu giống, 100 cơ sở, qua kiểm tra, đã xử lý khoảng 03 trường hợp vi phạm, chủ yếu các hành vi kinh doanh giống ko rõ nguồn gốc, không nhãn mác, chất lượng không đạt tiêu chuẩn công bố. Công tác xuất, nhập khẩu giống cây trồng được hoạt động nhập khẩu giống được thực hiện nghiêm túc thông qua việc kiểm tra hồ sơ, nguồn gốc xuất xứ, kiểm dịch thực vật và giám sát chất lượng. Về sử dụng giống cây trồng cơ bản tuân thủ theo quy định của pháp luật, Hiện nay, tỷ lệ sử dụng giống cây trồng có nguồn gốc rõ ràng ngày càng tăng. Đối với cây lúa, tỷ lệ sử dụng giống xác nhận đạt 98% diện tích gieo trồng, góp phần nâng cao năng suất bình quân đạt khoảng 60 tạ/ha. Đối với cây ăn quả chủ lực, tỷ lệ sử dụng giống ghép, giống chất lượng cao đạt trên 90% diện tích, đặc biệt đối với các vùng sản xuất tập trung. Sản xuất, buôn bán phân bón hiện có 10 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón được cấp giấy phép kinh doanh và 1.502 cơ sở, kinh doanh phân bón và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón. Hàng năm, kiểm tra 140 cơ sở kinh doanh phân bón, phát hiện và xử lý khoảng 08 trường hợp vi phạm, chủ yếu là kinh doanh phân bón không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng, vi phạm về nhãn mác.
Công tác xuất khẩu, nhập khẩu phân bón hoạt động nhập khẩu phân bón chủ yếu thông qua các Công ty được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp phép. Từ năm 2025 đến nay, Tỉnh được giao thẩm quyền thực hiện cấp giấp phép nhập khẩu phân bón theo quy định; thực hiện cấp 01 giấy phép nhập khẩu phân bón cho Công ty TNHH SUMAGROW INSIDE về làm khảo nghiệm. Quản lý chất lượng, quảng cáo, sử dụng phân bón thực hiện lấy 50 mẫu phân bón kiểm tra chất lượng, có khoảng 85% mẫu đạt tiêu chuẩn; còn lại là các mẫu không đạt tiêu chuẩn chất lượng, không rõ nguồn gốc, vi phạm quy định nhãn mác đã được xử lý theo quy định. Từ năm 2015 - 2025 thực hiện thanh, kiểm tra 5.785 tôe chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh giống cây trồng, phân bón, thuốc BVTV, KDTV đã phát hiện và xử lý 335 cơ sở vi phạm, xử phạt 1.165,16 triệu đồng nộp NSNN. Công tác canh tác việc phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung và liên kết sản xuất, đặc biệt là công tác quản lý và cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, đến nay tỉnh đã quy hoạch, xây dựng được khoảng hơn 300 vùng sản xuất tập trung, diện tích khoảng trên 65.000 ha, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp, HTX và nông dân, đến nay có khoảng trên 70 chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trồng trọt, tập trung vào các sản phẩm chủ lực rau an toàn, vải thiều, cây ăn quả có giá trị kinh tế cáo như: cam, bưởi. Công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã cấp được 409 mã số vùng trồng, trong đó: 315 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích 18.507,94 ha với các loại cây trồng như vải thiều, nhãn, bưởi, vú sữa; 94 mã số vùng trồng nội địa với diện tích 444,591 ha với các loại cây trồng cây ăn quả, dưa các loại, cây dược liệu, ngô, lạc, hoa; 46 cơ sở đóng gói xuất khẩu với tổng diện tích mặt bằng 39.300 m2, tổng công suất đóng gói 2.725 tấn/ngày. Ứng dụng công nghệ cao và cơ giới hóa trong canh tác đã triển khai xây dựng trên 1.000 mô hình ứng dụng công nghệ cao, áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm, tưới nhỏ giọt, bón phân tự động, sản xuất theo quy trình VietGAP, hữu cơ, tuần hoàn, có thương hiệu, nhãn hiệu và hợp đồng tiêu thụ sản phẩm. Cơ giới hóa trong sản xuất được đẩy mạnh, đặc biệt ở khâu làm đất, thu hoạch. Tỷ lệ cơ giới hóa trong làm đất đạt 100%, gieo sạ, máy cấy từ 30-35%, phun thuốc BVTV đạt trên 70%, thu hoạch lúa đạt 91%, vận chuyển vật tư, nông sản đạt 95%. Bước đầu đã hình thành các HTX dịch vụ, tổ dịch vụ cơ giới hóa đồng bộ từ khâu làm đất đến thu hoạch. Canh tác hữu cơ (Việc thực hiện Nghị định Nông nghiệp hữu cơ tại địa phương), diện tích sản xuất theo hướng hữu cơ đạt khoảng 100 ha; tập trung chủ yếu ở các cây trồng: rau màu, cây ăn quả, chè, cho hiệu quả kinh tế cao hơn từ 10-20% so với sản xuất truyền thống; giai đoạn 2020-2025, thực hiện Đề án Hỗ trợ phát triển cây ăn quả bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021-2025, tỉnh đã hỗ trợ 100% kinh phí tư vấn, cấp giấy chứng nhận cho 01 mô hình sản xuất vải thiều đạt tiêu chuẩn hữu cơ với quy mô 10 ha. Canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường đã chuyển đổi khoảng trên 1.300 ha đất trồng kém hiệu quả sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, diện tích canh tác thân thiện môi trường như ICM, IPHM, SRI, 3 giảm 3 tăng (trên cây lúa) đạt 80.000 ha, giảm chi phí sản xuất từ 10-15% và hạn chế phát thải. Công tác thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến, thương mại và quản lý chất lượng sản phẩm cây trồng được thực hiện cơ bản đúng thời điểm, tỷ lệ cơ giới hóa trong thu hoạch lúa đạt 91%, các loại rau màu 7-10%, hiện nay có khoảng 300 cơ sở sơ chế, trong đó có 46 cơ sở được cấp mã số phục vụ xuất khẩu; 200 cơ sở chế biến nông sản thực phẩm, 04 nhà máy chế biến nông sản lớn còn lại hầu hết là các cơ sở chế biến có quy mô nhỏ không tập trung. Về phòng, chống sinh vật gây hại (SVGH) thực vật từ năm 2015-2025, trên địa bàn tỉnh không có dịch hại lớn xảy ra đã bố trí 90 triệu đồng kinh phí dịch hại thực vật bùng phát trên địa bàn tỉnh. Diện tích nhiễm SVGH giai đoạn 2015-2025, tổng diện tích nhiễm sâu bệnh trên các loại cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh 1.413.240 ha, diện tích nhiễm nặng 121.639 ha, diện tích phòng trừ 2.128.956 ha, tổ chức 3.819 lớp, tập huấn cho 265.020 lượt nông dân về kiến thức phòng chống sinh vật gây hại, thông qua các chương trình: 3 giảm 3 tăng tập huấn, sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả, mở 01 khoá đào tạo giảng viên (TOT) về IPM, phối hợp với Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc tổ chức 01 khoá tập huấn nâng cao cho các giảng viên TOT-IPM lên TOT-IPHM cho 31 học viên là cán bộ nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh, Hòa Bình và Trung tâm BVTV phía Bắc, in ấn và cấp phát 355.360 tờ rơi, 78.050 cuốn sổ tay, 150 pano, tuyên truyền 15.000 tin, bài về phòng trừ sâu bệnh, 3.819 hội nghị tập huấn cho 265.020 lượt hộ nông dân tham dự, phổ biến văn bản QPPL cho 25.464 tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc BVTV, phối hợp với Đài phát thành, truyền hình của Trung ương, địa phương thực hiện thông tin tuyên truyền 340 cuộc (bản tin, phóng sự, chuyên đề...) về công tác phòng trừ sinh vật gây hại trên các loại cây trồng và sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả. Thông qua hoạt động tuyên truyền và chuyển giao khoa học kỹ thuật đã giúp tổ chức, cá nhân nắm được các quy định pháp luật, quy trình kỹ thuật trong sản xuất. Qua đó, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước lĩnh vực bảo vệ và Kiểm dịch thực vật. Về kiểm dịch thực vật, diện tích cây trồng nhập nội hàng năm trên địa bàn tỉnh trên 9.000 ha, gồm một số giống như: Lúa lai, ngô lai, ớt, rau, dưa, khoai tây,...; Kiểm tra, hướng dẫn từ 55-60 chủ mô hình nhà màng, nhà lưới sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có sử dụng giống cây trồng nhập nội (rau, dưa các loại, nho... ) tại các phường, xã, kiểm tra 272 lượt chủ vật thể với trên 250.000 tấn, giám sát 98 tấn lúa mì MOLODOVA nhập từ Ukraine bị nhiễm đối tượng KDTV nhóm I và đã xử lý triệt để, điều tra 5 chợ đầu mối có hàng nông sản bị nhiễm đối tượng mọt đầu Mexico (năm 2009). Kết quả: Phát hiện đối tượng là mọt đậu Mexico trên đậu trắng nguồn gốc Trung Quốc tại chợ Thắng của huyện Hiệp Hòa cũ đã tiến hành xử lý và tiêu hủy 31 kg. Về quản lý thuốc bảo vệ thực vật, hiện có 01 doanh nghiệp sản xuất thuốc BVTV; 1.020 cơ sở kinh doanh thuốc BVTV đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phần lớn các cơ sở đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, buôn bán theo quy định; tuy nhiên vẫn còn một số cơ sở nhỏ lẻ hoạt động chưa đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất, bảo quản. Hàng năm, cơ quan chức năng thực hiện kiểm tra khoảng 130 cơ sở, phát hiện và xử lý 02 trường hợp vi phạm chủ yếu liên quan đến kinh doanh thuốc hết hạn, không rõ nguồn gốc. Hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu thuốc bảo vệ thực trên địa bàn tỉnh được thực hiện đúng quy định của pháp luật, chịu sự quản lý chặt chẽ của cơ quan chuyên ngành trồng trọt và BVTV, đảm bảo kiểm soát nguồn gốc, chất lượng và an toàn sử dụng.
Từ năm 2025 đến nay, tỉnh được giao thẩm quyền thực hiện cấp giấp phép nhập khẩu thuốc BVTV theo quy định; thực hiện cấp 15 giấy phép nhập khẩu thuốc BVTV cho các công ty kinh doanh thuốc BVTV trên địa bàn. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu thuốc BVTV được thực hiện chặt chẽ; qua công tác kiểm tra vật tư nông nghiệp, thuốc BVTV lưu thông trên thị trường cơ bản có nguồn gốc rõ ràng, được nhập khẩu theo quy định và nằm trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam. Hoạt động sử dụng, quảng cáo, vận chuyển thuốc bảo vệ thực vật được cơ quan chuyên ngành hướng dẫn thông qua các lớp tập huấn, tuyên truyền về sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả hoặc lồng ghép trong chỉ đạo đạo sản xuất, tập huấn kỹ thuật sản xuất trồng trọt, sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn GAP. Thông qua việc tập huấn, tuyên truyền đã giúp người sản xuất nhận thức và thay đổi thói quen, cách thức sử dụng thuốc BVTV, góp phần nâng cao hiệu quả phòng trừ, xây dựng nền sản xuất an toàn, bền vững; Công tác quản lý quảng cáo thuốc BVTV được tăng cường, các nội dung quảng cáo cơ bản tuân thủ quy định. Đến nay chưa phát hiện các trường hợp vi phạm về quảng cáo sai sự thật, thổi phồng công dụng sản phẩm; Hoạt động vận chuyển thuốc BVTV chủ yếu do các doanh nghiệp, đại lý thực hiện đảm bảo cung ứng kịp thời cho sản xuất, việc vận chuyển cơ bản tuân thủ quy định về an toàn, môi trường, phương tiện, thu gom và xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, theo thống kê, lượng chất thải nguy hại phát sinh từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp phát sinh là 0,16 tấn/ngày (tương đương 58,4 tấn/năm). Công tác thu gom vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng đã được triển khai trên toàn tỉnh. Đến nay, toàn tỉnh đã đầu tư xây dựng, lắp đặt được 7.333 bể chứa và 14.376 thùng đựng thu gom vỏ bao bì phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tại các tại các vườn đồi, cánh đồng, lượng bao bì phân bón, thuốc bảo vệ thực vật được xử lý đạt quy chuẩn môi trường đạt từ 80-85%. Hiện nay trên địa bàn tỉnh cơ bản các xã, phường ký hợp đồng với đơn vị chức năng như: Công ty CP Xử lý, tái chế chất thải công nghiệp Hòa Bình; Công ty Cổ phần môi trường Thuận Thành vận chuyển và xử lý vỏ bao gói thuốc BVTV (Công nghệ xử lý bao gói thuốc BVTV của cả hai đơn vị này đều là phương pháp đốt ở nhiệt độ cao, đảm bảo quy định về xử lý CTNH).
Tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý Nhà nước về trông trọt, bảo vệ và Kiểm dịch thực vật được củng cố, kiệm toàn từ cấp tỉnh đến cấp xã. Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa, tổ chức triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách về sản xuất nông nghiệp. Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành 07 Nghị quyết về chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Các Nghị quyết sau khi được ban hành đã góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển hàng hóa gắn với sản phẩm chủ lực, Công tác nghiên cứu khoa học về trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật được quan tâm. Giai đoạn 2015-2025 thực hiện 11 đề tài nghiên cứu, trong đó tập trung vào nội dung quản lý, điều tra thành phần sâu bệnh hại chính, đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc tròng, trừ sâu, bệnh hại trên các loại cây trồng. Phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện 75 đề tài khoa học về các lĩnh vực chọn tạo, nghiên cứu các giống có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận, đánh giá độ phì của đất canh tác và giải pháp quản lý, sử dụng, bổ sung dinh dưỡng phục hồi đất, giảm phát thải nhà kinh phục vụ sản xuất, góp phần đưa nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh phát triển bền vững./.
Thành Ninh-Chi cục Trồng trọt và BVTV