Vừa qua, tỉnh Bắc Ninh tiến hành tổng kết thi hành Nghị định 83/2018/NĐ-CP ngày 24/5/2018 của Chính phủ về khuyến nông ( Nghị định 83/2018/NĐ-CP) trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2018-2025, qua quá trình triển khai thực hiện Nghị định, công tác khuyến nông trên địa bàn tỉnh trong bối cảnh Quốc tế và trong nước có nhiều biến động, tuy nhiên các nhiệm vụ khuyến nông đã đạt nhược nhiều kết quả quan trọng, cụ thể:
1. Bối cảnh quốc tế và trong nước.
Tình hình chính trị và kinh tế thế giới: đã và đang trải qua những biến động sâu sắc, phức tạp, có nhiều sự khác biệt so với thời điểm ban hành Nghị định 83/NĐ-CP năm 2018. Các cuộc xung đột địa chính trị và chiến tranh tại nhiều khu vực đã gây đứt gãy, gián đoạn chuỗi cung ứng vật tư, làm mất ổn định giá thành đầu vào và thương mại nông sản toàn cầu, đặt các quốc gia trước thách thức về an ninh lương thực và yêu cầu tự chủ sản xuất. Biến đổi khí hậu với các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng, trở thành rủi ro trực tiếp đối với sự bền vững của nông nghiệp. Đặc biệt, xu hướng phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và các tiêu chuẩn thị trường khắt khe về giảm phát thải nhà kính, trách nhiệm xã hội đã trở thành điều kiện bắt buộc tại các thị trường xuất khẩu lớn. Cùng với đó, sự bùng nổ của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo được phổ biến, đã làm thay đổi hoàn toàn phương thức quản trị và chuyển giao kỹ thuật, đòi hỏi công tác khuyến nông phải thích ứng để không bị tụt hậu trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tình hình trong nước: sau 4 năm triển khai Nghị định, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, xác định mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa hiện đại, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và vai trò, vị thế của người nông dân.Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu phát triển mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, khẳng định, định hướng chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp; hướng tới mục tiêu “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”.
So với thời điểm ban hành Nghị định số 83/2018/NĐ-CP, bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện nay đã có nhiều thay đổi quan trọng, tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và hoạt động khuyến nông. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp hơn, làm gia tăng rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và tính ổn định của sản xuất. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực thích ứng, quản lý rủi ro và phát triển sản xuất bền vững. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng kéo theo yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và chất lượng nông sản. Chuyển đổi số và số hóa dữ liệu sản xuất trở thành yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, kết nối thị trường và tham gia chuỗi giá trị. Cùng với đó, sự dịch chuyển lao động nông thôn sang khu vực công nghiệp, dịch vụ làm gia tăng tình trạng thiếu lao động trong nông nghiệp, đòi hỏi đẩy mạnh cơ giới hóa, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới phương thức tổ chức sản xuất. Nông nghiệp phải chuyển mạnh theo hướng xanh, tuần hoàn và hiệu quả.
Đặc biệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới mô hình quản lý nhà nước tác động trực tiếp đến tổ chức và hoạt động khuyến nông. Tổng bí thư Tô Lâm đã kết luận cần quán triệt và nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của nông nghiệp và nhiệm vụ phát triển nông nghiệp trong phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của nhân dân theo đúng tinh thần "nông nghiệp là lợi thế quốc gia, là trụ đỡ của nền kinh tế"; xác định công tác khuyến nông là nhiệm vụ quan trọng của chính quyền cấp xã, khuyến nông phải gắn với cơ sở, gắn với đồng ruộng.
Tại tỉnh Bắc Ninh: từ ngày 01/7/2025, địa phương vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, không còn cấp huyện, đồng thời hợp nhất lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục áp dụng Nghị định số 83/2018/NĐ-CP với các quy định được xây dựng cho mô hình tổ chức cũ đã bộc lộ một số bất cập, đòi hỏi phải tổng kết, đánh giá và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
2. Quá trình thực hiện tổng kết.
Triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh Bắc Ninh về việc tổng kết thi hành Nghị định số 83/2018/NĐ-CP, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh đã giao Trung tâm Khuyến nông tỉnh chủ trì tham mưu, phối hợp với các phòng chuyên môn và các đơn vị trực thuộc tổ chức rà soát, đánh giá việc triển khai thực hiện tổng kết thi hành Nghị định số 83/2018/NĐ-CP trong giai đoạn từ năm 2018 đến nay, bảo đảm đúng nội dung, tiến độ và yêu cầu đề ra.
Trong quá trình tổng kết, Sở Nông nghiệp và Môi trường triển khai lấy ý kiến của các đơn vị, địa phương; các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ nông dân tham gia hoạt động khuyến nông nhằm đánh giá khách quan kết quả đạt được; những khó khăn, vướng mắc và mức độ phù hợp của các quy định hiện hành. Trên cơ sở tổng hợp báo cáo của các đơn vị, ý kiến của địa phương và đối tượng thụ hưởng, kết quả triển khai các chương trình khuyến nông kết hợp với khảo sát thực tế và rà soát các quy định có liên quan, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã chỉ đạo chỉnh lý, hoàn thiện báo cáo tổng kết, làm cơ sở đánh giá toàn diện việc thi hành Nghị định số 83/2018/NĐ-CP và đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
3. Kết quả triển khai Nghị định 83/2018/NĐ-CP về khuyến nông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3.1. Công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị định: Ngay sau khi Nghị định số 83/2018/NĐ-CP ngày 24/5/2018 của Chính phủ về khuyến nông được ban hành và có hiệu lực thi hành, Sở Nông nghiệp và Môi trường (trước đây là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định đến 100% cán bộ, công chức, viên chức thuộc Sở; đồng thời phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan và UBND các huyện, thành phố tổ chức tuyên truyền, phổ biến Nghị định theo quy định của pháp luật đến cấp cơ sở và nhân dân, góp phần nâng cao nhận thức và thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện.
3.2. Công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn, triển khai: Trên cơ sở Nghị định số 83/2018/NĐ-CP, Thông tư 75/2019/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện hoạt động khuyến nông, Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh và Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang cũ đã giao cho các Trung tâm Khuyến nông chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tham mưu xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách khuyến nông trên địa bàn tỉnh, cụ thể:
Nghị quyết số 45/2020/NQ-HĐND ngày 09/12/2020 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Bắc Giang quy định nội dung chi và mức chi cho hoạt động khuyến nông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021–2025;
Nghị quyết số 147/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành quy định hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Nghị quyết số 06/2021/NQ-HĐND ngày 16/7/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh quy định nội dung chi và mức chi cho hoạt động khuyến nông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;
Nghị quyết số 07/2022/NQ-HĐND ngày 07/07/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành quy định nội hỗ trợ về phát triển nông nghiệp, chương trình OCOP và ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Nghị quyết số 16/2024/NQ-HĐND ngày 11/12/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành quy định hỗ trợ về phát triển nông nghiệp, chương trình OCOP, ngành nghề nông thôn và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Quyết định số 1877/QĐ-UBND ngày 13/11/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh phê duyệt Chương trình khuyến nông tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020–2025;
Quyết định số 1290/QĐ-UBND ngày 27/6/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang phê duyệt Chương trình khuyến nông tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021–2025;
Sau khi sáp nhập tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh đã tham mưu UBND tỉnh ban hành các chính sách:
Quyết định số 932/QĐ-UBND ngày 20/9/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh phê duyệt Chương trình khuyến nông tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026–2030.
Nghị quyết số 37/2025/NQ-HĐND ngày 10/10/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh quy định nội dung chi và mức chi hỗ trợ hoạt động khuyến nông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;
3.3. Tổ chức bộ máy và nguồn lực thực hiện:
Tỉnh Bắc Giang cũ:
Cấp tỉnh: Trung tâm Khuyến nông tỉnh là đơn vị đầu mối triển khai, với 25 cán bộ, viên chức; 100% có trình độ đại học trở lên, thuộc các chuyên ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, bảo vệ thực vật, lâm nghiệp, kinh tế và khuyến nông.
Cấp huyện: Lực lượng nòng cốt là cán bộ Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật nông nghiệp các huyện, thành phố, với trên 125 viên chức; 100% có trình độ đại học trở lên.
Cấp xã: Đến năm 2024, các xã đều bố trí 01 cán bộ khuyến nông, với tổng số 219 người; 100% có trình độ đại học trở lên, thuộc các chuyên ngành nêu trên.
Tỉnh Bắc Ninh cũ:
Cấp tỉnh: Trung tâm Khuyến nông và Phát triển Nông nghiệp công nghệ cao tỉnh là đơn vị đầu mối triển khai thực hiện, với 23 viên chức; 100% có trình độ đại học trở lên, trong đó 61% có trình độ trên đại học, thuộc các chuyên ngành trồng trọt, chăn nuôi, thú y, thủy sản, bảo vệ thực vật, lâm nghiệp và kinh tế.
Cấp huyện (08 Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp trực thuộc UBND các huyện, thị xã, thành phố): Có 178 viên chức, 100% có trình độ đại học trở lên, thực hiện nhiệm vụ khuyến nông, trồng trọt và bảo vệ thực vật. Cấp xã: Mỗi xã được bố trí từ 01 đến 02 viên chức của Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp cấp huyện theo dõi, phụ trách địa bàn.
Từ ngày 01/01/2026, Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh sáp nhập với Trung tâm Khuyến nông và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Bắc Ninh thành Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh với tổng số 47 viên chức. Bộ máy Trung tâm gồm giám đốc, các phó giám đốc và 4 phòng gồm: Phòng Trồng trọt - Khuyến lâm, Phòng Chăn nuôi - Thủy sản, Phòng Hành chính - Tổng hợp và Phòng Thông tin - Đào tạo. Đối với cấp xã, Sau sáp nhập tỉnh và thực hiện bộ máy chính quyền 2 cấp, cấp xã mỗi xã bố trí 1-2 cán bộ làm công tác khuyến nông nằm trong Trung tâm Cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công lập.
3.4.Kinh phí triển khai Nghị định giai đoạn 2018-2025 trên địa bàn tỉnh:
Sau khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 75/2019/TT-BTC quy định việc quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện hoạt động khuyến nông, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh đã tham mưu UBND các tỉnh trình Hội đồng nhân dân ban hành chính sách của địa phương và tổ chức thực hiện từ năm 2020.
Kinh phí cấp tỉnh: Tổng kinh phí của 2 tỉnh (Bắc Ninh và Bắc Giang cũ) hỗ trợ cho hoạt động Khuyến nông trong giai đoạn 2020-2025 là: 52.506.753.139 đồng (Năm mươi hai tỷ, năm trăm linh sáu triệu, bẩy trăm năm mươi ba nghìn, một trăm ba mươi chín đồng), cụ thể:
Thông tin tuyên truyền: 2.118.163.080 đồng
Thăm quan, học tập kinh nghiệm trong nước: 1.068.000.000 đồng
Tọa đàm nông nghiệp: 312.470.661 đồng
Hội thảo nông nghiệp: 1.017.416.720 đồng
Tham gia Hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, sản phẩm OCOP trong nước: 684.064.000 đồng
Tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân; Bồi dưỡng, tập huấn chuyên ngành; Hội nghị tổng kết mô hình: 6.570.338.952 đồng
Xây dựng và nhân rộng mô hình: 38.769.719.726 đồng
Kinh phí quản lý mô hình: 741.000.000 đồng
Kinh phí hỗ trợ tỉnh Xây Sổm Bun - Lào: Tổng kinh phí thực hiện hỗ trợ 1.225.580.000 đồng trong đó thực hiện hỗ trợ 05 mô hình là 1.165.580.000 đồng; Tổ chức 03 lớp tập huấn cho cán bộ Sở Nông lâm tỉnh Xay Sổm Bun và nông dân là 60.000.000 đồng.
Kinh phí cấp huyện, cấp xã do các đơn vị, tổ chức, cá nhân xây dựng, đề nghị phê duyệt kế hoạch khuyến nông hàng năm của cấp huyện, cấp xã.
3.5. Kết quả triển khai thi hành Nghị định trên địa bàn tỉnh
Bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo; Công tác tập huấn phục vụ các mô hình khuyến nông trong giai đoạn 2020 -2025 đã triển khai 847 lớp tập huấn kỹ thuật cho 70.850 lượt đại biểu tham dự, với nội dung chuyển giao khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản; tuyên truyền, phổ biến các đề án, kỹ thuật sản xuất an toàn, liên kết tiêu thụ sản phẩm; phân tích thị trường và marketing nông sản; ứng dụng chuyển đổi số trong nông nghiệp. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, khả năng tiếp cận tiến bộ kỹ thuật và tư duy sản xuất theo thị trường của người sản xuất; thúc đẩy áp dụng các mô hình sản xuất an toàn, hiệu quả, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và hiệu quả hoạt động khuyến nông trên địa bàn.
Công tác tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ khuyến nông, cộng tác viên khuyến nông: Đã tổ chức 30 lớp tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các đối tượng chuyển giao và tiếp nhận chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp, với 900 cán bộ và nông dân tham gia. Thông qua các lớp tập huấn, cán bộ và nông dân được trang bị kiến thức về phương pháp, kỹ năng hoạt động khuyến nông; các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, thủy sản theo VietGAP; ứng dụng chuyển đổi số và đưa sản phẩm nông nghiệp lên sàn thương mại điện tử. Qua đó góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường; phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo, tuyên truyền, phổ biến trong sản xuất nông nghiệp, đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương và thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.
Thông tin, tuyên truyền; Từ năm 2020 đến năm 2024, đã tổng hợp tình hình, kết quả sản xuất các mô hình, điển hình tiên tiến; biên tập, viết tin, bài tuyên truyền phục vụ sản xuất nông nghiệp của tỉnh đăng tải trên Bản tin Khuyến nông và Báo Bắc Ninh. Trong giai đoạn này, đã in và phát hành 24/24 số Bản tin Khuyến nông với tổng số 28.800 cuốn, bình quân mỗi năm phát hành 06/06 số với 7.200 cuốn (đạt 100% kế hoạch). Đồng thời, đã xuất bản 20.800 cuốn tài liệu kỹ thuật, gồm: Kỹ thuật treo tường (năm 2020: 3.000 cuốn; năm 2021: 3.100 cuốn; năm 2022: 8.100 cuốn; năm 2023: 2.200 cuốn; năm 2024: 2.200 cuốn; năm 2025: 2.200 cuốn); Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây có múi theo VietGAP; Kỹ thuật canh tác cây vải theo VietGAP; Kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh một số đối tượng cá nước ngọt; kỹ thuật chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, cấp phát cho nông dân các địa phương trong tỉnh. Thông qua các ấn phẩm tuyên truyền và tài liệu kỹ thuật, nông dân trong tỉnh đã nắm bắt được những nội dung cơ bản về lựa chọn giống, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và chăm sóc cây trồng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, duy trì hoạt động 02 trang thông tin điện tử: khuyennongbacgiang.vn và ttkn.bacninh.gov.vn, với trên 1.000.000 lượt truy cập mỗi năm đối với cả hai trang. Đã biên tập gần 900 tin, bài, clip với nội dung phong phú, đa dạng, tập trung tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới; gương điển hình tiên tiến; tiến bộ khoa học kỹ thuật; công tác chỉ đạo sản xuất của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường; hướng dẫn kỹ thuật trong chăn nuôi, trồng trọt và phòng, chống dịch bệnh, đói rét cho gia súc, gia cầm, thủy sản. Qua các hoạt động trên đã góp phần kịp thời cung cấp thông tin, kiến thức kỹ thuật cho người sản xuất, nâng cao nhận thức và khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn; đồng thời tạo sức lan tỏa rộng rãi, thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân, cán bộ và doanh nghiệp, được đánh giá cao về hiệu quả và tính thiết thực.
Phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh xây dựng và phát sóng 289 chương trình tuyên truyền về phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong khung giờ thời sự lúc 20 giờ, với nhiều chủ đề khác nhau; phối hợp với Báo Bắc Ninh đăng tải 500 chuyên mục và 1/2 trang báo Xuân hằng năm về hoạt động khuyến nông, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh và các mô hình điển hình tiên tiến; phối hợp với Cổng thông tin điện tử tỉnh đăng tải hình ảnh, thông tin tuyên truyền về các sự kiện khuyến nông và các mô hình phát triển nông nghiệp tiêu biểu.Thông qua các hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin khuyến nông được truyền tải rộng rãi, kịp thời đến đông đảo người dân, góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy sản xuất, thúc đẩy việc nhân rộng các mô hình nông nghiệp hiệu quả, đồng thời tăng cường sức lan tỏa và hiệu quả tuyên truyền trong phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Phối hợp với Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp các huyện, thị xã, thành phố cử 700 đại biểu là cán bộ khuyến nông, nông dân điển hình tham gia 5 diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp
Tổ chức trên 70 hội nghị tổng kết các mô hình (10 cấp tỉnh; 60 cấp huyện) cho 7.000 lượt người tham dự. Điển hình như mô hình: “Ứng dụng Drone - thiết bị bay không người lái 3 trong 1 (gieo giống, rải phân, phun thuốc BVTV) trong sản xuất lúa tại Bắc Ninh”; Cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa“; “Sản xuất lúa Tân ưu 98 liên kết tiêu thụ sản phẩm”; “Sử dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất cà rốt nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế”; “Chăn nuôi vịt Sumo thương phẩm trong chuồng kín đảm bảo an toàn sinh học”, sản xuất cây ăn quả (vải, cam, ổi) theo hướng hữu cơ... Các hội nghị đã đánh giá kết quả mô hình, đồng thời cũng chỉ ra những thuận lợi, khó khăn gặp phải trong quá trình triển khai để từ đó người dân có thể xem xét học tập, nhân ra diện rộng những thành quả của mô hình.
Tổ chức Hội nghị giao ban câu lạc bộ khuyến nông toàn quốc năm 2023 (lần 1) cho 27 tỉnh/thành phố tham dự;
Tổ chức 05 cuộc hội thảo nông nghiệp cho 402 lượt người tham dự... Các cuộc hội thảo đều gắn với các mô hình khuyến nông, nhằm đánh giá kết quả đạt được của các mô hình và tuyên truyền nhân ra diện rộng.
Tổ chức 07 tọa đàm nông nghiệp với trên 900 đại biều. Các tọa đàm được các đại biểu tham dự ghi nhận đánh giá cao.
Tham gia 12 hội chợ, triển lãm với các nội dung trưng bày và quảng bá: Tham gia Festival sản phẩm nông nghiệp và làng nghề Hà Nội; Sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm làng nghề OCOP tại Hà Nội và Hải Phòng; Phiên chợ nông sản đặc sản vùng miền; Hội chợ triển lãm Nông nghiệp Quốc tế lần thứ 24 - AgroViet 2024; Festival hàng nông sản, sản phẩm OCOP; Hội chợ triển lãm sản phẩm nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng năm 2024 tại Bắc Ninh. Thông qua hội chợ, triển lãm góp phần quảng bá, kết nối và tiêu thụ sản phẩm nông sản chủ lực và các sản phẩm OCOP của tỉnh.
Tổ chức 12 đoàn tham quan học tập trao đổi kinh nghiệm một số mô hình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các tỉnh, thành phố có nền nông nghiệp phát triển như: Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Sơn La, và thành phố Cần Thơ... cho 260 đại biểu là cán bộ nông nghiệp và nông dân tiêu biểu. Từ kết quả học tập các tỉnh bạn đã vận dụng đáng kể vào thực hiện các mô hình, dự án nông nghiệp tỉnh nhà.
Nhìn chung, các hoạt động thông tin, tuyên truyền khuyến nông được triển khai đồng bộ, đa dạng, bảo đảm kịp thời và thiết thực, góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy sản xuất của người dân. Qua đó, thúc đẩy việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, tăng cường kết nối tiêu thụ sản phẩm và nâng cao vai trò, hiệu quả của công tác khuyến nông trong phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Xây dựng và nhân rộng mô hình;
Lĩnh vực trồng trọt: Giai đoạn từ năm 2020-2025, đã triển khai, xây dựng được 65 mô hình trong lĩnh vực trồng trọt. Các mô hình trình diễn đã đưa tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới về giống, biện pháp thâm canh, ứng dụng công nghệ cao... nên đã giúp người dân nâng cao hiệu quả sản xuất trên 15% và nhân ra diện rộng như:
Cây lương thực: Mô hình ứng dụng Drone - thiết bị bay không người lái 3 trong 1 (gieo giống, rải phân, phun thuốc BVTV) trong sản xuất lúa tại Bắc Ninh; Mô hình sản xuất lúa ĐH12 tập trung theo chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm; Mô hình sản xuất lúa J02 gắn với tiêu thụ sản phẩm; Mô hình sản xuất lúa ST25 theo hướng hữu cơ liên kết tiêu thụ sản phẩm; Mô hình sản xuất nấm Bào ngư thương phẩm; Ứng dụng phân hữu cơ nano trong sản xuất lúa; mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ (giống J02) gắn với tiêu thụ sản phẩm, sản xuất lúa đặc sản kết hợp chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ như mạ khay - máy cấy, sử dụng máy bay không người lái (Drone) trong phun thuốc, mô hình sản xuất giống lúa mới kết hợp công nghệ tưới ướt – khô xen kẽ và vi sinh...
Mô hình sản xuất rau, hoa cây cảnh: Mô hình sản xuất dưa thơm trong nhà màng ứng dụng công nghệ châm phân tự động tích hợp điều khiển từ xa qua điện thoại thông minh; mô hình trồng dưa lưới, dưa thơm trong nhà màng có tích hợp cảm biến EC, pH, độ ẩm, ánh sáng và vi khí hậu đã giúp kiểm soát điều kiện canh tác, nâng cao chất lượng nông sản. Mô hình sử dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất cà rốt nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế; Mô hình sản xuất rau an toàn theo VietGAP gắn với tiêu thụ được mở rộng tại nhiều địa phương. Mô hình sản xuất một số giống hoa chất lượng cao như lan, ly, lay ơn bước đầu hình thành vùng sản xuất tập trung; mô hình tiên tiến khác như sản xuất khoai tây sử dụng phân bón sinh học Azotobacterin, kết hợp cơ giới hóa và thiết bị làm đất điều khiển vệ tinh đã thể hiện hướng tiếp cận nông nghiệp thông minh. Mô hình sản xuất nấm ăn chất lượng cao gắn với liên kết tiêu thụ cho hiệu quả tăng 25% so với sản xuất truyền thống.
Một số mô hình cây ăn quả tiếp tục cho hiệu quả cao như sản xuất bưởi hữu cơ, vải thiều sản xuất theo VietGAP, ứng dụng UAV trong phun thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất cây ăn quả đặc sản phục vụ xuất khẩu… từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa gắn với chuỗi giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp của tỉnh.
Nhìn chung, các mô hình khuyến nông trồng trọt trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được triển khai bảo đảm chất lượng, phù hợp với điều kiện sản xuất và cơ cấu cây trồng, tập trung vào các cây trồng chủ lực, có lợi thế và nhu cầu thị trường. Các mô hình đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, giống mới, cơ giới hóa và công nghệ cao, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, có tính lan tỏa và khả năng nhân rộng cao. Hiệu quả mô hình đã tác động tích cực đến việc thay đổi tư duy sản xuất của nông dân theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững, đồng thời là cơ sở thực tiễn để tỉnh ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển trồng trọt; nhiều giống cây trồng mới như ĐH12, J02, DT82 được bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của ngành trồng trọt.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp: Các mô hình được triển khai theo hướng phát triển bền vững, gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp. Tiêu biểu là các mô hình trồng rừng tham canh, quản lý rừng bền vững; phát triển cây dược liệu như trà hoa vàng, khôi tía; trồng rừng gỗ lớn bằng giống keo lai mô và trồng rừng thâm canh sử dụng giống mới, qua đó từng bước hình thành vùng nguyên liệu phục vụ chế biến, nâng cao thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân vùng trung du, miền núi. Thông qua các mô hình, người dân đã từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chủ động đầu tư thâm canh, kéo dài chu kỳ sản xuất, sử dụng giống cây lâm nghiệp chất lượng cao, phát triển rừng gỗ lớn gắn với quản lý rừng bền vững, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.
Lĩnh vực chăn nuôi thủy sản: Trong giai đoạn vừa qua, đã xây dựng 63 mô hình khuyến nông trong lĩnh vực chăn nuôi và thủy sản, trong đó có 33 mô hình chăn nuôi và 30 mô hình thủy sản. Các mô hình được xây dựng bảo đảm chất lượng, nội dung phù hợp với điều kiện tự nhiên, quy mô sản xuất và định hướng phát triển chăn nuôi, thủy sản của tỉnh Bắc Ninh; tập trung vào chăn nuôi an toàn sinh học, liên kết tiêu thụ sản phẩm, phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường. Thông qua triển khai mô hình, hiệu quả kinh tế của các hộ tham gia tăng từ 15-20% so với phương thức sản xuất truyền thống; nhiều mô hình sau tổng kết đã được người dân chủ động học tập và nhân rộng với tỷ lệ trên 20%, được chính quyền địa phương và nông dân đánh giá cao về tính thực tiễn và hiệu quả. Đây là tiền đề quan trọng góp phần giúp người dân ổn định sản xuất, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, các mô hình chăn nuôi vịt Sumo thương phẩm trong chuồng kín an toàn sinh học; sử dụng thức ăn bổ sung thảo dược trong chăn nuôi gà thịt bền vững; vỗ béo bò thịt BBB thương phẩm; chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học; phát triển chăn nuôi ong theo hướng VietGAHP thích ứng với biến đổi khí hậu đã góp phần giảm dịch bệnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả chăn nuôi. Trong lĩnh vực thủy sản, các mô hình ứng dụng công nghệ biofloc nuôi cá rô phi thâm canh; ứng dụng công nghệ số nuôi ghép cá trắm cỏ; bổ sung thảo dược hạn chế dịch bệnh; nuôi trai lấy ngọc kết hợp nuôi cá; nuôi cá tầm lồng trên sông Thái Bình; trồng lúa ST25 kết hợp nuôi cá chép lai V1 thương phẩm cho hiệu quả rõ rệt về năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Nhìn chung, các mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất của tỉnh Bắc Ninh, góp phần chuyển đổi phương thức chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao thu nhập và tạo nền tảng phát triển bền vững ngành chăn nuôi, thủy sản.
Tư vấn, dịch vụ khuyến nông: Hệ thống khuyến nông trong tỉnh thường xuyên phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, Liên minh Hợp tác xã, doanh nghiệp và hợp tác xã để triển khai hoạt động tư vấn, dịch vụ khuyến nông. Thông qua việc cử cán bộ tham gia báo cáo viên, tập huấn và xây dựng các mô hình khảo nghiệm giống, vật tư, kỹ thuật, công nghệ mới, khuyến nông đã góp phần chuyển giao kịp thời tiến bộ kỹ thuật, giảm rủi ro sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng cường liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.
Hợp tác quốc tế, hợp tác công tư trong hoạt động khuyến nông: Giai đoạn 2020-2025, Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh triển khai thực hiện Kế hoạch số 481/KH-UBND ngày 25/8/2022 của UBND tỉnh Bắc Giang và Chính quyền tỉnh Xay Sổm Bun- Lào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, đã triển khai tốt các nhiệm vụ như:
Công tác trao đổi đoàn: Trong giai đoạn 2021-2025, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã chủ trì tổ chức 05 đoàn cán bộ, chuyên gia sang tỉnh Xay Sổm Bun thực hiện các nhiệm vụ: Phổi hợp khảo sát Công trình thủy lợi Nậm Mang; 04 Chuyên gia trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản sang hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Xay Sổm Bun. Sở Nông nghiệp và Môi trưởng phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh, Sở Nội vụ, Sở Ngoại vụ, UBND các xã đón 05 đoàn ( 70 lượt đại biểu) cán bộ, nông dân tiêu biểu tỉnh Xay Sổm Bun thăm quan các mô hình sản xuất nông nghiệp tiêu biểu về lĩnh vực cây ăn quả, nông nghiệp công nghệ cao, chăn nuôi vỗ béo bò thịt, thâm canh cá, dê; tọa đàm lĩnh vực phát triển sản xuất nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2021-2025 tại tỉnh Bắc Ninh
Triển khai hỗ trợ các mô hình sản xuất nông nghiệp: Hỗ trợ tập huấn 03 lớp với 150 lượt đại biểu cán bộ, nông dân tỉnh Xay Sổm Bun về kỹ thuật thâm canh cá, kỹ thuật sản xuất lúa chất lượng cao và kỹ thuật sản xuất rau trong nhà lưới đơn giản.
Triển khai hỗ trợ được 04 mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp, như mô hình nuôi ghép cá rô phi là chính trong ao, theo đánh giá của Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Xay Sổm Bun về con giống, vật tư đưa sang thực hiện mô hình, cá sinh trưởng và phát triển tốt hơn so với địa phương, mô hình triển khai phù hợp với điều kiện và nhu cầu địa phương của Lào. Mô hình sản xuất lúa bằng giống lúa BC15, kết quả, giống lúa BC15 sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu, bệnh hại, năng suất bình quân đạt 5,26 tấn/ha, cao hơn năng suất lúa bình quân của tỉnh Xay Sổm Bun (chỉ đạt 3,8 tấn/ha); Đến nay các hộ vẫn phát huy giống lúa BC15 và kỹ thuật canh tác lúa tại tỉnh, năng suất lúa đạt trên 55ta/ha (tự để giống qua 3 vụ tại huyện Longcheng). Mô hình trồng cam V2, quy mô 01 ha, kết quả (đến thời điểm hiện tại), giống cam V2 đạt tỷ lệ sống sau trồng đạt 98%, sinh trưởng tốt, phù hợp điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng tại địa phương. Mô hình trồng vải, quy mô 0,25 ha, kết quả, giống vải thiều của Bắc Giang sau trồng sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu, bệnh hại; Tỷ lệ sống sau trồng đạt 74%. Mô hình trồng rau trong nhà lưới đơn giản, quy mô 300 m2 tại huyện Anuvong, đến nay mô hình đã duy trì và phát huy hiệu quả việc trồng rau, khắc phục mưa và côn trùng gây hại...Các hoạt động hợp tác và mô hình khuyến nông triển khai tại tỉnh Xay Sổm Bun đã đạt kết quả tốt, bước đầu phát huy hiệu quả, giúp cán bộ kỹ thuật và nông dân địa phương tiếp cận, áp dụng các giống cây trồng, vật nuôi và quy trình kỹ thuật phù hợp, qua đó cải thiện năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Mặc dù một số mô hình còn ở quy mô nhỏ và cần thêm thời gian để đánh giá đầy đủ tác động, song kết quả ban đầu cho thấy tính phù hợp với điều kiện sản xuất và khả năng tiếp thu của người dân, tạo tiền đề cho việc duy trì và nhân rộng trong thời gian tới. Thông qua việc tổ chức trao đổi đoàn, tập huấn và xây dựng mô hình, mối quan hệ hợp tác giữa tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Xay Sổm Bun ngày càng gắn bó, tin cậy; các hoạt động không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ kỹ thuật, phát triển sản xuất mà còn góp phần củng cố tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào.
4. Về hiệu quả kinh tế - xã hội khi triển khai Nghị định
Về hiệu quả kinh tế: Việc triển khai Nghị định số 83/2018/NĐ-CP đã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thông qua hệ thống các mô hình khuyến nông và hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp từng bước chuyển dịch theo hướng tập trung vào cây trồng, vật nuôi chủ lực, hình thành các vùng sản xuất tập trung, vùng nguyên liệu gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp. Các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị góp phần nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh của nông sản, giảm chi phí sản xuất và cải thiện thu nhập, hiệu quả kinh tế của hộ nông dân.
Hoạt động khuyến nông đã góp phần nâng cao nhận thức, trình độ sản xuất và kỹ năng nghề cho nông dân, từng bước thúc đẩy sự chuyển biến về tư duy từ sản xuất manh mún, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa có tổ chức, có liên kết và định hướng thị trường. Thông qua công tác tuyên truyền, tập huấn, tham quan, học tập mô hình, vai trò của hợp tác xã, tổ hợp tác và các hình thức liên kết cộng đồng nông thôn được củng cố, góp phần tăng cường sự tham gia của người dân vào các hoạt động phát triển sản xuất.
Trong bối cảnh đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra nhanh, hoạt động khuyến nông đã góp phần ổn định đời sống nông dân, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, tạo điều kiện duy trì sinh kế bền vững ở khu vực nông thôn. Qua đó, khuyến nông góp phần hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, giảm chênh lệch giữa khu vực nông thôn và đô thị, đồng thời củng cố niềm tin của người dân đối với chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước.
5. Đánh giá ưu điểm, bất cập, hạn chế và nguyên nhân những hạn chế của Nghị định
Ưu điểm: So với Nghị định số 02/2010/NĐ-CP, Nghị định số 83/2018/NĐ-CP đã tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về công tác khuyến nông, khắc phục những hạn chế của cơ chế cũ và phù hợp hơn với yêu cầu phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới. Nghị định đã mở rộng nội dung khuyến nông từ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đơn thuần sang hỗ trợ tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ, phát triển chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng nông sản, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển nông nghiệp bền vững.
Việc triển khai Nghị định số 83/2018/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tỉnh Bắc Ninh xây dựng và thực hiện các chương trình, chính sách khuyến nông phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Thông qua hệ thống khuyến nông, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất tiên tiến, cơ giới hóa đồng bộ và ứng dụng công nghệ cao đã được chuyển giao, áp dụng trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản. Nhiều mô hình khuyến nông được triển khai và nhân rộng, trở thành điểm trình diễn, học tập và trao đổi kinh nghiệm cho nông dân, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất.
Cùng với đó, hoạt động khuyến nông đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hàng hóa, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Thông qua công tác tuyên truyền, tập huấn, tham quan mô hình và ứng dụng các phương thức khuyến nông phù hợp, vai trò của hợp tác xã, tổ hợp tác và các hình thức liên kết sản xuất được củng cố; mối liên kết giữa Nhà nước, cơ quan khoa học, doanh nghiệp và nông dân từng bước được hình thành và phát triển, tạo nền tảng cho phát triển các chuỗi giá trị nông sản trên địa bàn tỉnh.
Qua quá trình thực hiện Nghị định số 83/2018/NĐ-CP, năng lực của đội ngũ cán bộ khuyến nông và trình độ sản xuất của người dân được nâng lên rõ rệt; tư duy sản xuất từng bước chuyển từ manh mún, nhỏ lẻ sang sản xuất có tổ chức, có liên kết và định hướng thị trường. Những kết quả này đã đóng góp tích cực vào các thành tựu chung của ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua, góp phần ổn định đời sống nông dân, nâng cao thu nhập, thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững.
Hạn chế: Hiện nay sau khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025 trên địa bàn toàn quốc, không còn chính quyền cấp huyện. Do vậy, những quy định trong Nghị định 83/2018/NĐ-CP liên quan đến chính quyền cấp huyện đã không còn phù hợp với tình tình hình thực tiễn.
Nội dung khuyến nông còn thiên về chuyển giao kỹ thuật, chưa làm rõ vai trò trong tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ, phát triển chuỗi giá trị, truy xuất nguồn gốc, nông nghiệp xanh và chuyển đổi số; vai trò khuyến nông như một dịch vụ công chuyên nghiệp chưa được xác định rõ.
Một số quy định chưa theo kịp yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp; quy định về khuyến nông cộng đồng còn chung chung, thiếu cơ chế hoạt động và nguồn lực bảo đảm.
Quy trình, thủ tục chấp thuận tiến bộ kỹ thuật, công nghệ đưa vào mô hình, dự án khuyến nông chưa rõ ràng, thiếu tiêu chí cụ thể, gây khó khăn cho địa phương trong triển khai.
Chính sách xây dựng, nhân rộng mô hình và xã hội hóa khuyến nông chưa đủ mạnh, chưa tạo động lực thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức khoa học công nghệ tham gia sâu vào hoạt động khuyến nông.
Quy định về tổ chức hệ thống khuyến nông, nhất là khuyến nông cộng đồng, còn chung chung; vai trò, chức năng và cơ chế hoạt động chưa rõ, chưa phù hợp với yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình mới.
Thủ tục, hồ sơ triển khai và nghiệm thu một số nhiệm vụ, dự án khuyến nông còn phức tạp, chưa phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và điều kiện thực tế ở cơ sở.
Một số định mức hỗ trợ và cơ chế tài chính không còn phù hợp với mặt bằng giá, chi phí hiện nay, đặc biệt đối với các mô hình ứng dụng công nghệ cao và mô hình liên kết chuỗi giá trị.
Nguyên nhân: Bối cảnh phát triển nông nghiệp sau năm 2018 có nhiều thay đổi nhanh về thị trường, biến đổi khí hậu, hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu an toàn thực phẩm, trong khi Nghị định 83/NĐ-CP chưa kịp cập nhật, điều chỉnh.
Giá vật tư đầu vào, chi phí lao động tăng cao, làm giảm hiệu quả triển khai và khả năng nhân rộng các mô hình khuyến nông.
Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh, làm thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp và lực lượng lao động nông thôn, ảnh hưởng đến tổ chức và hiệu quả hoạt động khuyến nông.
Việc cụ thể hóa, hướng dẫn triển khai một số nội dung của Nghị định còn chậm, chưa đồng bộ giữa Trung ương và địa phương.
7. Xác định những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, kiến nghị đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định, các giải pháp để khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả thi hành Nghị định khuyến nông
7.1. Những vấn đề mới phát sinh.
Hệ thống tổ chức khuyến nông: Chưa quy định đầy đủ mô hình tổ chức khuyến nông phù hợp yêu cầu tinh gọn bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và đổi mới phương thức hoạt động.
Khuyến nông cộng đồng: Chưa làm rõ vị trí, cơ chế hoạt động và chính sách hỗ trợ đối với khuyến nông dựa vào cộng đồng, hợp tác xã, tổ nhóm nông dân.
Chuyển đổi số trong khuyến nông: Chưa có quy định cụ thể về khuyến nông số, ứng dụng nền tảng số trong tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin và quản lý sản xuất.
Giảm phát thải, nông nghiệp bền vững: Vai trò của khuyến nông trong hướng dẫn sản xuất thân thiện môi trường, giảm phát thải chưa được quy định rõ.
Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị: Chưa có cơ chế để khuyến nông tham gia sâu, hiệu quả vào liên kết chuỗi, tiêu chuẩn chất lượng và thị trường tiêu thụ.
7.2. Các giải pháp để khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả thi hành Nghị định khuyến nông
Rà soát, sửa đổi, bổ sung Nghị định khuyến nông theo hướng mở rộng nội dung hoạt động, chuyển từ trọng tâm chuyển giao kỹ thuật sang hỗ trợ toàn diện tổ chức sản xuất, liên kết thị trường, phát triển chuỗi giá trị, nông nghiệp xanh và nông nghiệp bền vững.
Hoàn thiện quy định về hệ thống tổ chức khuyến nông trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp; làm rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các cấp khuyến nông, đặc biệt là khuyến nông cộng đồng, bảo đảm hoạt động hiệu quả, sát cơ sở. Bổ sung quy định cụ thể về khuyến nông cộng đồng, bao gồm cơ chế tổ chức, phương thức hoạt động, chính sách hỗ trợ và mối liên kết với hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp và người sản xuất.
Bổ sung nội dung về chuyển đổi số trong khuyến nông; đẩy mạnh ứng dụng nền tảng số trong tư vấn kỹ thuật, đào tạo, cung cấp thông tin thị trường, quản lý sản xuất và kết nối tiêu thụ nông sản.
Hoàn thiện quy trình, thủ tục chấp thuận, lựa chọn và áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới trong các mô hình, dự án khuyến nông, bảo đảm linh hoạt, kịp thời và phù hợp với thực tiễn.
Điều chỉnh, cập nhật định mức hỗ trợ và cơ chế tài chính cho hoạt động khuyến nông phù hợp với mặt bằng giá, chi phí hiện nay, nhất là đối với các mô hình ứng dụng công nghệ cao, mô hình liên kết chuỗi và mô hình sản xuất bền vững.
Tăng cường xã hội hóa công tác khuyến nông, tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khoa học – công nghệ tham gia chuyển giao công nghệ, xây dựng và nhân rộng mô hình khuyến nông.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong triển khai và nghiệm thu nhiệm vụ, dự án khuyến nông; tăng phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của địa phương trong tổ chức thực hiện.
Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, cộng tác viên khuyến nông, đáp ứng yêu cầu mới về tổ chức sản xuất, thị trường, chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp bền vững.
Ngô Hồng Huyên- Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh