Thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững, đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã dần hình thành các vùng trồng rừng tập trung, nguồn nguyên liệu đáp ứng được các cơ sở chế biến gỗ trong và ngoài tỉnh. Sản phẩm gỗ đã đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Việc trồng rừng không chỉ được các cấp, các ngành quan tâm mà người dân đã thực sự để ý đến, nhất là các hộ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số lấy đó làm mục tiêu phấn đấu để tăng thu nhập, đưa kinh tế gia đình ngày một phát triển.
Rừng trồng xanh tốt tại xã miền núi Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh
Hiện nay, toàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng trên 80.000 ha rừng trồng sản xuất, sản lượng gỗ khai thác rừng trồng bình quân đạt khoảng 1 triệu m3 gỗ/năm; từng bước phát triển chế biến tinh, sâu, giảm dần chế biến thô hay còn gọi là băm dăm, bóc ván... giá trị ước đạt gần 2.500 tỷ đồng/năm. Nhờ đó đã góp phần cải thiện và nâng cao thu nhập cho người dân làm nghề rừng, nhiều hộ dân ở vùng đồng bào dân tộc đã làm giầu lên từ phát triển kinh tế rừng. Cũng từ đó, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở Bắc Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Từ sản xuất lâm nghiệp truyền thống sang phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế và đang giữ vai trò quan trọng, trong phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái. Có thể thấy bộ mặt nông thôn miền núi ngày một thay đổi nhờ vào trồng rừng kinh tế, kết quả ở một số địa phương như sau:
Trước đây, khi chưa tham gia trồng rừng kinh tế, cuộc sống của gia đình ông Nguyễn Văn Trường ở thôn Tẩu, xã Dương Hưu, tỉnh Bắc Ninh cũng như các gia đình khác ở trong thôn gặp rất nhiều khó khăn. Cuộc sống của các hộ dân chủ yếu dựa vào chăn nuôi nhỏ lẻ hay vài sào ruộng khoán, những lúc nông nhàn thì đi thu hái lâm sản phụ trong rừng. Tuy nhiên, nhờ có những chính sách đầu tư, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, nhất là các chính sách về giữa gìn, bảo vệ và trồng rừng kinh tế. Cùng với đó là công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng của của các cấp, các ngành đã giúp cho người dân trong thôn hiểu về kỹ thuật trồng rừng. Nhờ được tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật và được đi tham quan, học hỏi các mô hình trồng rừng kinh tế. Gia đình ông Trường cũng như các hộ dân ở trong thôn đã mạnh dạn đưa cây keo mô vào sản xuất. Đây là cây lâm nghiệp có ưu điểm vượt trội, có bộ rễ khỏe ăn sâu giữ độ ẩm cho đất tốt, không làm đất bạc màu, tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng sinh khối lớn, đặc điểm dễ tiêu thụ, giá bán gỗ thành phẩm cao hơn nhiều so với các loại gỗ khác nên năng suất và giá trị kinh tế cao hơn hẳn so với các giống cũ trước đây.
Như năm 2024, mặc dù diện tích 2 ha trồng keo nhà ông có bị ảnh hưởng do thiên tai bão lũ, nhưng sau thu hoạch vẫn đạt trên 120 triệu đồng tiền lãi. Từ khi trồng rừng, đưa giống mới vào sản xuất và áp dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác nên hiệu quả kinh tế nâng lên rõ rệt. Cũng từ trồng rừng kinh tế mà gia đình ông Trường từ một hộ nghèo nay đã trở nên khấm khá.
Cơ ngơi của gia đình ông Nguyễn Văn trường ở thôn Tẩu, xã Dương Hưu, tỉnh Bắc Ninh có được nhờ vào chăm chỉ làm việc, tiết kiệm và trồng rừng kinh tế
Theo tính toán của ông Trường: cứ 1 ha trồng keo mô, sau một chu kỳ chăm sóc từ 5 đến 6 năm trừ chi phí cũng thu về từ 120 - 130 triệu đồng/ha tiền lãi. Từ hiệu quả trồng rừng như vậy, nên ông Trường thường xuyên tuyên truyền tới bà con trong thôn mạnh dạn chuyển đổi giống cây trồng, đưa những giống mới vào sản xuất nhằm mang lại lợi ích kinh tế cao, tăng thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống. Cũng từ đó phong trào trồng rừng kinh tế ở đây ngày một phát triển.
Gia đình anh Nguyễn Văn Thanh ở thôn Tẩu, cũng giống gia đình ông Trường đã giàu lên từ trồng rừng kinh tế. Nhất là vào thời điển này, người dân ở đây đều rất phấn khởi, bởi giá gỗ nguyên liệu tăng cao. Trong tổng số 6 ha rừng trồng, đợt này gia đình anh Thanh cũng được khai thác 1 ha rừng, với giá bán hiện tại là 13 triệu/tấn, cũng thu về hơn 100 triệu đồng tiền lãi.
Anh Nguyễn Văn Thanh ở thôn Tẩu, xã Dương Hưu đang khai thác gỗ keo của gia đình mình
Theo ông Chúc Văn bộ - Phó chủ tịch UBND xã Dương Hưu, tỉnh Bắc Ninh cho biết: với lợi thế đất đai và truyền thống trồng rừng, nhất là hiệu quả kinh tế đem lại cao. Những năm gần đây, người dân ở xã Dương Hưu đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích đất rừng trồng thâm canh gỗ nguyên liệu, tạo ra nguồn thu nhập ổn định và bền vững. Hiện toàn xã Dương Hưu có tổng diện tích đất rừng và đất lâm nghiệp là hơn 11.600 ha, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của xã. Trong đó, diện tích rừng sản xuất là gần 8 nghìn ha, tỷ trọng ngành lâm nghiệp trong cơ cấu kinh tế xã đạt trên 50%, trở thành ngành kinh tế chủ lực để xã thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Từ đầu năm cho đến nay, tổng sản lượng gỗ khai thác của xã đạt gần 289 nghìn tấn. Đây là sản lượng lớn nhất từ trước tới nay, khẳng định rõ hiệu quả kinh tế mà mô hình trồng rừng mang lại. Hiện nay trên địa bàn xã đang triển khai cấp chứng chỉ rừng bền vững và thu hút các công ty, doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu về gỗ, nhằm nâng cao giá trị ngành sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn và tạo việc làm cho người dân tại địa phương. Hiện nay đang có 3 doanh nghiệp lớn đang thực hiện thủ tục về đầu tư để thực hiện dự án chế biến gỗ trên địa bàn xã.
Cũng như xã Dương Hưu, xã Tây Yên Tử là một xã miền núi, làm việc với ông Nguyễn Văn An, Phó Chủ tịch UBND xã Tây Yên Tử được biết “Trong tổng số diện tích đất lâm nghiệp có trên 11 nghìn ha, trong đó có hơn 4 nghìn ha rừng trồng kinh tế. Chính vì vậy, kinh tế lâm nghiệp luôn là mũi nhọn, trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội của xã. Trong những năm qua, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế rừng mang tính bền vững, UBND xã luôn khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân liên danh, liên kết đẩy mạnh tổ chức thực hiện quản lý rừng và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững”.
Nếu như trước đây, gia đình ông Hoàng Văn Đại ở thôn Rỏn, xã Tây Yên Tử nhận trồng rừng, cũng chỉ nghĩ là để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc….mà không quan tâm nhiều đến lợi ích về kinh tế rừng. Sau nhiều năm, được các ngành và chính quyền địa phương tuyên truyền, hỗ trợ cây con giống mới và hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc. Từ đó, hiệu quả trồng rừng đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho gia đình.
Cán bộ kiểm lâm cùng chính quyền địa phương hướng dẫn ông Hoàng Văn Đại ở thôn Rỏn, xã Tây Yên Tử hướng dẫn cách chăm sóc vườn keo 1 năm tuổi của gia đình
Nhằm tạo nên phong trào trồng rừng ở các xã, nhất là các xã có thôn bản vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đưa các cây con giống mới vào sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế. Coi trồng rừng là nghề chính và thực sự trở thành cây trồng giúp người dân vươn lên thoát nghèo và làm giàu.
Gia đình anh Vũ Văn Công ở thôn Rỏn, xã Tây Yên Tử có hơn 4 ha rừng trồng. Bình quân mỗi 1 ha cho thu nhập 120 triệu đồng tiền lãi/chu kỳ trồng từ 5 – 6 năm, đây cũng là nguồn thu nhập chính của gia đình. Chính vì vậy, gia đình luôn nhận thấy rõ việc phát triển rừng, nhất là vào thời kỳ hiện nay, khi kinh tế hội nhập toàn cầu. Xác định trồng rừng kinh tế phải mang tính bền vững mới nâng cao chất lượng gỗ rừng trồng, đáp ứng các yêu cầu khi xuất khẩu sản phẩm sang một số thị trường cao cấp, qua đó nâng cao giá trị sản phẩm cũng như thu nhập cho gia đình. Thực tế, rừng được cấp chứng chỉ không chỉ mang lại nhiều lợi ích về môi trường, bảo vệ tài nguyên đất, nguồn nước, mà gỗ và các sản phẩm chế biến từ gỗ sẽ xuất khẩu thuận lợi, trong đó nhiều thị trường chỉ nhập khẩu gỗ từ rừng có Chứng chỉ FSC.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, mô hình trồng rừng còn mang lại nhiều giá trị xã hội và môi trường. Trước hết là việc tạo việc làm thường xuyên cho hàng nghìn lao động tại mỗi địa phương, giúp giảm tỷ lệ nghèo và nâng cao thu nhập bình quân. Người dân không chỉ có thêm nguồn thu từ khai thác gỗ, mà còn từ dịch vụ chăm sóc, bảo vệ rừng và trồng xen các loại cây ngắn ngày. Về mặt môi trường, diện tích rừng được quản lý, bảo vệ và trồng mới đã góp phần quan trọng trong việc giữ nước, chống xói mòn đất, điều hòa khí hậu và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên. Đây cũng là yếu tố quan trọng để các địa phương thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai, đặc biệt là sạt lở đất, lũ quét vốn từng là nguy cơ lớn ở khu vực miền núi. Chính vì vậy, nhằm mở rộng các mô hình trồng rừng kinh tế theo hướng bền vững. Các địa phương đã khuyến khích người dân áp dụng khoa học kỹ thuật, giống cây mới năng suất cao và mở rộng diện tích trồng rừng bền vững để nâng cao giá trị sản phẩm gỗ.
Có thể khẳng định, mô hình trồng rừng kinh tế tại các địa phương trong tỉnh không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực, mà còn góp phần bảo vệ môi trường, giữ gìn hệ sinh thái và tạo sinh kế ổn định cho nhân dân. Đây là một hướng đi đúng đắn, phù hợp với tiềm năng lợi thế của mỗi địa phương, và sẽ tiếp tục là trụ cột trong phát triển kinh tế - xã hội của toàn tỉnh trong những năm tới.
Hiện nay, Ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh Bắc Ninh đang phối hợp các địa phương có rừng tổ chức thực hiện hiệu quả quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng; nắm bắt thông tin, kiểm tra, kiểm soát, quản lý lâm sản, kịp thời phát hiện, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và gây nuôi động vật rừng. Quan tâm thực hiện các giải pháp, ứng dụng công nghệ mới trong phát triển lâm nghiệp như: sử dụng phần mềm giám sát lửa rừng, biến động rừng và đất lâm nghiệp để theo dõi, phát hiện tình trạng mất rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, diễn biến tài nguyên rừng; nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng sản xuất; thu hút đầu tư xây dựng nhà máy chế biến sâu, công suất lớn, sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường châu Âu, Mỹ, Nhật Bản....
Cùng với đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả rừng trồng sản xuất theo hướng tối ưu hóa hệ thống sản xuất và chuỗi giá trị lâm sản, Bắc Ninh tập trung phục hồi rừng tự nhiên bằng các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung, nuôi dưỡng và làm giàu rừng. Ngoài ra, tỉnh nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với việc sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp, ưu tiên phát triển giống được sản xuất từ cây mô để trồng rừng sản xuất; bảo vệ tốt các khu rừng đặc dụng, bảo tồn và phát huy giá trị nguồn gen cây rừng, tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; duy trì và nâng cao chất lượng rừng phòng hộ.
Phạm Văn Thuyên