Sau 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/01/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh đã đạt một số kết quả tích cực trong nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và bảo vệ môi trường.
Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất giống cây trồng
Công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết số 36-NQ/TW và các chủ trương, chính sách về công nghệ sinh học được triển khai thường xuyên thông qua sinh hoạt chi bộ, các chương trình, kế hoạch của tỉnh và việc xây dựng các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, sản xuất hữu cơ. Qua đó, nhận thức của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và người dân về vai trò của công nghệ sinh học trong phát triển nông nghiệp bền vững ngày càng được nâng cao.
Đặc biệt, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 585/QĐ-UBND ngày 30/12/2025 phê duyệt Đề án "Ứng dụng công nghệ sinh học xây dựng và phát triển ngành công nghiệp sinh học tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", tạo cơ sở quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học trong thời gian tới.
Trong lĩnh vực sản xuất giống, công nghệ nuôi cấy mô tế bào đã được ứng dụng thành công để nhân giống chuối tiêu hồng, hoa cúc, khoai tây siêu nguyên chủng, mỗi năm cung cấp hàng vạn cây giống sạch bệnh phục vụ sản xuất trong và ngoài tỉnh. Nhiều giống cây trồng có khả năng chống chịu sâu bệnh, thích ứng với điều kiện bất thuận cũng được đưa vào sản xuất đại trà, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp như giống ngô NK4300Bt/Gt có gen kháng sâu đục thân và chống chịu với thuốc trừ cỏ có gốc Glyphosate, giống lúa VNR20 có gen kháng rầy nâu và kháng đạo ôn, giống TBR97 có gen kháng rầy nâu và kháng đạo ôn, BC15 kháng đạo ôn, LC212 có gen kháng bạc lá ...
Việc ứng dụng phân bón vi sinh, phân bón hữu cơ và các chế phẩm sinh học tiếp tục được mở rộng. Nhiều mô hình sản xuất vải thiều, nhãn theo tiêu chuẩn GlobalGAP, hữu cơ được triển khai, góp phần kéo dài thời gian khai thác vườn cây, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao hiệu quả kinh tế và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Trong công tác bảo vệ thực vật, toàn tỉnh đã xây dựng trên 100 mô hình ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học với tổng diện tích trên 50.000 ha. Tỷ lệ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học tăng từ 40% năm 2020 lên khoảng 45% năm 2025. Nhiều chế phẩm sinh học như Bacillus thuringiensis, Trichoderma, EM, IMO... được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất lúa, rau màu và cây ăn quả, góp phần giảm sử dụng hóa chất, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng nông sản.
Công nghệ sinh học cũng từng bước được ứng dụng trong bảo quản sau thu hoạch, xử lý phụ phẩm nông nghiệp, sản xuất phân bón hữu cơ, phát triển mô hình nông nghiệp tuần hoàn và xử lý chất thải chăn nuôi bằng vi sinh vật. Song song với đó, ngành nông nghiệp đã tích cực triển khai chương trình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), đào tạo đội ngũ giảng viên và nông dân nòng cốt; đến nay đã có hơn 9.100 ha cây trồng áp dụng quy trình IPHM trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học vẫn còn một số hạn chế như ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp nhìn chung vẫn còn chậm so với tốc độ phát triển chung của khu vực, hiệu quả ứng dụng chưa cao, quy mô ứng dụng còn nhỏ, nguồn nhân lực chuyên sâu còn thiếu, doanh nghiệp công nghệ sinh học chưa nhiều và cơ chế thu hút đầu tư chưa thực sự đồng bộ.
Trong thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sinh học; phát triển các mô hình điểm sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học theo chuỗi giá trị; tăng cường đầu tư hạ tầng và nghiên cứu công nghệ sinh học, đầu tư cơ sở vật chất phòng thí nghiệm, nhà máy chế phẩm sinh học; đào tạo nguồn nhân lực; hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp và người dân ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất. Đồng thời, tiếp tục nhân rộng các mô hình trên các cây trồng chủ lực như vải, nhãn, bưởi, cam, quýt, na…./.
Ngọc Quang