TRỒNG TRỌT - CHĂN NUÔI - THUỶ SẢN

Hành trình của trái vải Bắc Ninh “Từ mùa quả ngọt đến cuộc cạnh tranh toàn cầu”

19/05/2026 22:07

Năm giờ sáng. Sương đêm còn đọng trên những tán vải ở phường Phúc Hoà. Ông Trần Văn Dinh, thôn Lân Thịnh, đã ra vườn từ trước đó. Ông không vội hái quả, cũng chưa phun thuốc – ông đi từng gốc, vuốt lại những tấm màn trắng căng quanh tán cây, vốn được gia đình ông và cán bộ kỹ thuật địa phương dựng lên theo mô hình thử nghiệm hợp tác cùng Công ty TNHH Dragon Berry International. Nhìn từ chân đồi, vườn vải của ông như một dãy nhà lưới thấp tầng nối nhau dọc triền dốc.

Đằng sau lớp màn trắng tưởng chừng bình dị ấy là một toan tính rất cụ thể: làm thế nào để quả vải Bắc Ninh đặt được chân lên kệ siêu thị Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia – nơi mỗi lô hàng đều phải bước qua những máy phân tích đo dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tới đơn vị phần tỷ.

“Trước, cứ thấy sâu là phun, phun đẫm cho yên tâm. Giờ không được thế nữa đâu. Họ test một cái mà vượt chỉ tiêu là cả container vứt đi. Mình làm sai có một hộ, nhưng cả mã vùng phải chịu. Anh em bảo nhau, không ai dám làm liều.” — Ông Trần Văn Dinh, hộ trồng vải xuất khẩu, phường Phúc Hoà.


 Cán bộ kỹ thuật cùng gia đình ông Trần Văn Dinh kiểm tra và tháo màn che chuẩn bị cho thu hoạch 

Khi vườn vải phải đạt chuẩn xuất khẩu

Vụ vải năm 2026 của Bắc Ninh khởi đầu trong một bối cảnh không thuận. Giai đoạn phân hoá mầm hoa rơi đúng đợt thời tiết bất thường: nhiệt độ cao kéo dài, thời gian rét ngắn, nhiều vườn ra hoa kém, đậu quả thưa, thậm chí mất mùa cục bộ. Sản lượng toàn tỉnh ước đạt 95.000 tấn trên tổng diện tích 29.800 ha – chỉ bằng 59,5% kế hoạch. Vải sớm bước vào thu hoạch từ ngày 25/5, vải chính vụ từ ngày 10/6/2026. Đúng vào năm khan hiếm, chất lượng mỗi cân vải càng trở thành lợi thế quyết định.

Trong tổng diện tích ấy, 17.500 ha (chiếm 58,7%) đang được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, sản lượng an toàn ước đạt 55.700 tấn. Diện tích GlobalGAP được nâng lên 255 ha sau khi duy trì 235 ha cũ và cấp mới thêm 20 ha, sản lượng khoảng 1.500 tấn – tập trung cho các lô hướng tới thị trường Nhật Bản, Hoa Kỳ, châu Âu. Riêng phường Phượng Sơn đang triển khai mô hình 10 ha vải hữu cơ, bước thí điểm đầu tiên hướng tới phân khúc cao cấp nhất của thị trường quốc tế.

Mô hình che màn của ông Dinh chính là một hướng đi như vậy: giảm can thiệp hoá học, tăng kiểm soát cơ học. Trên 18 cây thử nghiệm, kết quả ban đầu cho thấy số lần phun thuốc giảm rõ rệt, còn sâu đục cuống – nỗi ám ảnh muôn thuở của người trồng vải – bị khống chế đáng kể. Cán bộ kỹ thuật nằm vùng ghi nhận, đang tính chuyện nhân rộng ra một số vườn khác trong xã.


 Chuyên viên Phòng Bảo vệ thực vật – Chi cục Trồng trọt và BVTV lấy mẫu kiểm tra dư lượng thuốc BVTV trước khi thu hoạch

Người giữ chuẩn cho cả vùng

Đằng sau mỗi vườn vải đạt chuẩn xuất khẩu là sự có mặt thường trực của những người không trực tiếp trồng vải nhưng nắm rõ từng vườn vải như chính chủ. Ngay từ đầu vụ, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã thành lập Tổ chỉ đạo sản xuất vải thiều gồm 21 cán bộ chuyên môn, phân công bám sát từng xã, phường trọng điểm; phối hợp với hợp tác xã, doanh nghiệp xuất khẩu hướng dẫn nông dân từ khâu chăm sóc đến giai đoạn cận thu hoạch. Đến nay, Sở đã ban hành 5 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn chăm sóc vải; xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn quy trình và danh mục thuốc bảo vệ thực vật phù hợp với quy định của từng thị trường nhập khẩu.

“Cái khó nhất không phải là dạy bà con dùng thuốc gì, mà là dạy cách nghĩ. Trước cứ thấy sâu là đánh, đánh trước cho chắc. Giờ phải nhìn lịch, nhìn thời gian cách ly, nhìn cả mã số vùng trồng. Sai một hộ, vạ cả vùng. Có khi mình phải xuống tận vườn, cầm tay chỉ việc, bà con mới yên tâm.” — Chị Cáp Thị Cần, cán bộ kỹ thuật nằm vùng

Áp lực mà chị Cần nói tới không phải chuyện riêng của vài hộ. Một mã số vùng trồng có thể tập hợp hàng trăm hộ dân. Chỉ cần một hộ phun thuốc lệch quy định, không đủ thời gian cách ly, toàn bộ mã số đứng trước nguy cơ bị nước nhập khẩu đình chỉ. Đó là lý do giám sát nội bộ và lấy mẫu phân tích dư lượng được duy trì dày đặc nhất trong giai đoạn cận thu hoạch. Kỷ luật vùng trồng, đến đây, không còn là một yêu cầu hành chính – nó là điều kiện sống còn để giữ kênh xuất khẩu.

Doanh nghiệp vào chuỗi từ trước khi quả chín

“Khách hàng nước ngoài giờ không hỏi quả đẹp hay xấu nữa. Họ hỏi vùng trồng ai quản lý, lấy mẫu mấy lần một vụ, sai sót thì xử lý ra sao. Họ mua hệ thống, chứ không mua từng container.”— Đại diện Công ty TNHH Dragon Berry International

Cũng vì lẽ đó, Dragon Berry không chờ đến ngày thu hoạch mới xuất hiện. Từ đầu vụ, doanh nghiệp đã có mặt cùng cán bộ kỹ thuật theo dõi sâu bệnh, hướng dẫn quy trình, xác nhận thời điểm thu hoạch phù hợp với từng thị trường đích. Đó là một chuyển dịch âm thầm nhưng đáng kể: từ doanh nghiệp đi thu mua, sang doanh nghiệp đồng hành từ gốc.

Sau thu hoạch, áp lực không hề nhẹ đi. Vải thiều thuộc nhóm trái cây nhạy cảm bậc nhất – chỉ cần vài giờ thiếu nhiệt độ chuẩn, vỏ chuyển xỉn, vị ngọt giảm, đủ để một lô hàng bị từ chối ngay tại cảng đến. Vì vậy, vải xuất khẩu phải được làm mát nhanh, phân loại, đóng gói đúng quy cách trong một khoảng thời gian rất hẹp. 42 cơ sở đóng gói xuất khẩu đã được cấp mã trên toàn tỉnh không chỉ là điểm trung chuyển – đó là mắt xích kiểm soát chất lượng cuối cùng trước khi trái vải lên đường. Năm 2026, tỉnh dự kiến đánh giá, cấp mới thêm 5 cơ sở để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng.


Ông Nguyễn Văn Toản – Trưởng phòng Bảo vệ thực vật, Chi cục Trồng trọt và BVTV cùng đại diện Công ty TNHH Dragon Berry International kiểm tra tình hình sâu đục cuống vải 

“Vườn vải đẹp” và bài toán thương hiệu

Song hành với câu chuyện kỹ thuật là bài toán hình ảnh vùng trồng. Năm 2026, chương trình bình chọn “vườn vải đẹp” được triển khai tại 15 xã, phường trọng điểm; kết quả lựa chọn được 143 vườn đạt tiêu chí, tổng diện tích 144 ha, sản lượng ước đạt 934,6 tấn – vượt 17% so với kế hoạch. Những vườn vải này không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn được kết nối với chương trình du lịch trải nghiệm, biến mùa vải thành điểm đến cho du khách và đối tác thương mại.

Song song với đó, những phiên livestream ngay tại vườn vải – có sự tham gia trực tiếp của lãnh đạo tỉnh và bà con nông dân – không đơn thuần là kênh bán hàng. Đó là cách để đối tác quốc tế nhìn thấy tận mắt vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và con người đứng sau mỗi lô hàng. Trong bối cảnh người mua ngày càng coi trọng câu chuyện xuất xứ, minh bạch sản xuất là lợi thế cạnh tranh mà không một con số thống kê nào có thể thay thế.


Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Văn Thịnh livestream quảng bá vải Lục Ngạn trên các sàn thương mại điện tử năm 2025 – Nguồn ảnh: Facebook Dũng Lục Ngạn

Hành trình xa nhất

Nhìn lại cả vụ vải 2026, điều đáng chú ý không nằm ở con số sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu. Điều đáng chú ý hơn là một chuyển dịch âm thầm nhưng căn bản trong cách người trồng vải Bắc Ninh hiểu về công việc của chính mình. Người như ông Dinh giờ không chỉ lo cây có ra quả – ông lo dư lượng. Chị Cần không chỉ hướng dẫn kỹ thuật – chị quản trị rủi ro cho cả một vùng trồng. Doanh nghiệp như Dragon Berry không chỉ đợi đến mùa thu mua – họ đồng hành từ gốc rễ.

Bắc Ninh hiện duy trì 241 mã số vùng trồng vải xuất khẩu, với tổng diện tích 17.450 ha, hướng đến các thị trường: Trung Quốc (75.000 tấn), Nhật Bản (3.500 tấn), Australia (3.000 tấn), Hoa Kỳ (2.500 tấn) và Thái Lan (2.000 tấn). Nhưng những con số ấy sẽ chỉ là tiềm năng nếu thiếu sự đồng bộ của cả chuỗi – từ người cầm bình phun thuốc đến người vận hành kho lạnh, từ cán bộ kỹ thuật nằm vùng đến doanh nghiệp đứng tên trên hợp đồng với siêu thị nước ngoài.

Hành trình xa nhất của trái vải Bắc Ninh, vì vậy, không đo bằng kilômét từ vườn vải Phúc Hoà đến Tokyo hay Los Angeles. Nó đo bằng khoảng cách từ một thói quen canh tác cũ đến chuẩn mực sản xuất mà thị trường toàn cầu đang đặt ra. Và người trồng vải Bắc Ninh đang đi hành trình đó – từng mùa, từng vườn, từng tấm màn trắng bền bỉ căng trên những sườn đồi.

 Đỗ Văn Tuân – Chi cục Trồng trọt và BVTV